Hợp tác xã Kinh tế

Hiệu quả từ mô hình hợp tác xã làng nghề

Từ bao lâu nay các làng nghề truyền thống có một chỗ đứng nhất định tại các địa phương, nó không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho bà con mà còn tạo nên một nét đẹp văn hóa mang tính đặc trưng vùng, miền.

Tuy vậy, cơ chế thị trường phát triển, để tồn tại và phát triển đòi hỏi sản phẩm của các làng nghề truyền thống phải nâng cao tính cạnh tranh, người làm nghề phải tập hợp nhau lại, hỗ trợ nhau chuyển dần sang sản xuất hàng hóa, hay chính là duy trì, phát triển sản xuất theo mô hình hợp tác xã (HTX) kiểu mới. Thực tế chứng minh đó đang là hướng đi hợp lý, hiệu quả để duy trì, phát triển nghề truyền thống ở các địa phương.

Sản phẩm của HTX mì gạo Hùng Lô ngày càng được khách hàng ưa chuộng, tin dùng.

Trên địa bàn tỉnh hiện có hơn 70 làng nghề, giải quyết việc làm cho khoảng 30 nghìn lao động, trong đó có hơn 15 nghìn lao động thường xuyên. Thu nhập bình quân của lao động làng nghề cao gấp 2 – 3 lần lao động nông nghiệp. Các làng nghề chủ yếu tập trung vào các nhóm nghề chế biến chè, chế biến nông lâm thủy sản, làng nghề mộc. Tuy vậy, các làng nghề truyền thống vẫn chủ yếu hoạt động cá thể nhỏ lẻ, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”, chưa có sự liên kết, tương trợ nhau trong sản xuất, tiêu thụ và chưa có đủ tư cách pháp nhân để hỗ trợ hộ sản xuất, vay vốn đầu tư mở rộng, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Việc thành lập HTX kiểu mới trong các làng nghề truyền thống vừa tận dụng được nền tảng kinh nghiệm công việc của số đông người dân để sản xuất ra khối lượng hàng hóa lớn với chất lượng đồng đều; đồng thời lại tranh thủ được nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư trang thiết bị, máy móc hiện đại vào sản xuất nhằm tăng năng suất chất lượng sản phẩm; đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể, truy suất nguồn gốc tạo độ tin cậy cho người tiêu dùng hay chung tay giải quyết, xây dựng hệ thống xử lý nước, chất thải của quá trình sản xuất góp phần đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn; khơi dậy tính năng động tìm kiếm thị trường tiêu thụ và cải tiến mẫu mã chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng…

Rất nhiều năm về trước khi nhắc đến danh xưng “kẻ Xốm” người dân trong khu vực thành phố Việt Trì và một số vùng lân cận sẽ nhớ ngay đến sản phẩm mì, bún khô nức tiếng thơm ngon, dẻo dai; đến bây giờ mặt hàng truyền thống ấy vẫn giữ nguyên chất lượng và không chỉ có mặt trong những siêu thị, cửa hàng trên địa bàn tỉnh, được nhiều người chuộng, tin dùng mà còn mở rộng thị trường khắp trong ngoài nước. Nhưng ít ai biết rằng để có được “chỗ đứng” như hiện tại trên thị trường là cả quá trình vất vả, chứa đựng trong đó sự nhiệt huyết, yêu nghề và nhanh nhạy nắm bắt nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của những người trực tiếp sản xuất. Đã có giai đoạn làng nghề chỉ còn vài hộ tham gia sản xuất với mục đích chính là giữ nghề ông cha để lại chứ không xét về hiệu quả kinh tế.

Anh Nguyễn Đăng Duy – Trưởng làng nghề, Giám đốc HTX mì gạo Hùng Lô, xã Hùng Lô, thành phố Việt Trì bộc bạch: “Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ấy là do sản xuất nhỏ lẻ, chất lượng không đồng đều, không có tính cạnh tranh mà thị trường ngày càng bó hẹp do có nhiều mặt hàng thay thế…

Đến năm 2004, khi được công nhận là “Làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Đoàn Kết” thì cả làng chỉ còn vài hộ cố gắng duy trì nghề, nhưng sản phẩm vẫn chưa có đầu ra ổn định. Năm 2016, tôi chủ động liên kết với một số thành viên trong làng nghề thống nhất thành lập HTX sản xuất mì gạo Hùng Lô để hỗ trợ nhau trong sản xuất ra các sản phẩm đúng quy trình, chất lượng, tính cạnh tranh cao cũng như đảm bảo đủ số lượng cung cấp cho thị trường”. HTX hiện có 9 thành viên, trong đó có 6 thành viên trực tiếp sản xuất, ngoài ra có khoảng 15 lao động thường xuyên và hàng chục lao động tại các hộ gia đình thành viên. Mức lương của mỗi lao động được tính theo hình thức khoán sản phẩm, dao động trong khoảng 3,5 – 4 triệu đồng/người/tháng.

Sản xuất và chế biến chè sạch tại HTX chè Phú Thịnh. Ảnh: Phương Thanh


Từ thời điểm tham gia kinh tế hợp tác, tổng sản lượng mì xuất bán của các hộ nghề được nâng lên đáng kể. Để sản xuất diễn ra liên tục quanh năm các thành viên HTX phải đổi mới tư duy trong sản xuất hàng hóa từ máy móc, trang thiết bị như máy vo gạo, máy đùn sợi… để sản phẩm của HTX trở nên đồng đều về chất lượng, mẫu mã, khối lượng… Năm 2016 doanh thu của HTX đạt khoảng 2,8 tỷ đồng; năm 2017 doanh thu đạt trên 3 tỷ đồng và hứa hẹn sẽ tiếp tục tăng trưởng trong những năm tiếp theo.

Cây chè được xác định là một trong những cây kinh tế chủ lực của tỉnh khi có lịch sử phát triển từ lâu đời và mang lại nguồn thu nhập chính cho người dân ở nhiều địa phương. Tuy nhiên hiện nay sản phẩm chè xanh của các làng nghề truyền thống gặp phải sự cạnh tranh lớn trên thị trường cả về chất lượng, mẫu mã mà chưa có sự bảo hộ đồng loạt; bên cạnh đó thị trường đầu ra chưa ổn định nên tình hình sản xuất, giá cả bấp bênh. Được thành lập trên cơ sở làng nghề, hiện HTX sản xuất và chế biến chè Phú Thịnh, xã Phú Hộ (thị xã Phú Thọ) đã và đang thực hiện tốt cả “sứ mệnh” giữ nghề truyền thống và đảm bảo thu nhập cho các thành viên.

Ông Ngô Kế Thiện – thành viên HTX sản xuất và chế biến chè Phú Thịnh cho hay: “Khi chưa thành lập HTX, chúng tôi chủ yếu sản xuất, tiêu thụ tự do nên sản lượng, chất lượng, giá trị của chè chưa cao. Sau khi thành lập HTX, trồng, chăm sóc, chế biến chè theo quy trình sản phẩm được sản xuất, bán tập trung một đầu mối với chất lượng đồng đều, được kiểm soát nên được giá, mang lại thu nhập cao hơn từ 10 – 15 triệu đồng/năm”. Trung bình mỗi năm HTX xuất ra thị trường khoảng 15 tấn, trong đó 1/3 là chè đặc biệt với chất lượng thơm, ngon, giá bán 200 – 250 nghìn đồng/kg. Không chỉ bao tiêu sản phẩm cho các thành viên, HTX còn thu mua chè đảm bảo chất lượng cho bà con trong làng nghề.

Đó chỉ là 2 trong nhiều HTX được sinh ra từ làng nghề truyền thống trên địa bàn toàn tỉnh đang phát huy hiệu quả tốt. Ngoài ra trên địa bàn đã có một số làng nghề thành lập được HTX như: Làng nghề nón Sai Nga, xã Sai Nga (huyện Cẩm Khê); Làng nghề chế biến nông lâm sản Ấm Hạ, xã Ấm Hạ (huyện Hạ Hòa); Làng nghề chè Chùa Tà, xã Tiên Phú (huyện Phù Ninh)… Các HTX này đã phát huy tốt vai trò của mình trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm của làng nghề. Trong đó chú trọng tới việc quảng bá thương hiệu sản phẩm của làng nghề để nhiều người biết đến, đồng thời mở rộng liên kết với các cơ sở kinh doanh trong và ngoài tỉnh tạo thành mạng lưới tiêu thụ rộng rãi.

Để thành lập được các HTX trong làng nghề đã khó, để các HTX hoạt động hiệu quả, phát huy vai trò “bà đỡ” trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm lại càng khó hơn. Đặc biệt trong quá trình hoạt động đòi hỏi người đứng đầu các HTX phải nhanh nhạy nắm bắt quy luật của thị trường để đầu tư máy móc, thay đổi hướng sản xuất, nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp, đảm bảo tính cạnh tranh với những mặt hàng khác cùng chủng loại. Chính vì thế để HTX có thể được thành lập, phát triển tốt trong làng nghề cần có sự chung tay đồng lòng của các thành viên của làng nghề và sự ủng hộ của các cấp chính quyền.

(Nguồn: Lệ Oanh, Báo Phú Thọ)

Liên quan bài

Cá sông Đà chinh phục người dùng thủ đô bằng chất lượng và an toàn vệ sinh

Ngọc Quí

Xuất khẩu nông sản, trái cây sang Trung Quốc vào dịp Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020: Cần theo dõi sát diễn biến thông quan để đảm bảo chất lượng hàng hóa và tiến độ xuất khẩu

Bạch Kim

Quảng Ngãi: Triển vọng từ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị tại Sơn Tịnh

Bạch Kim

Để lại một bình Luận